NEWS & EVENTS

Vietnam - The next "work shop of the world" ?

09/03/2020
Đối với các khách hàng châu Âu, Mỹ quan tâm đến việc sản xuất tại Việt Nam. Hiện nay, họ dễ dàng nhận thấy các nhà máy và công ty thương mại ở Việt Nam mọc lên như nấm. Việc lựa chọn được đối tác phù hợp là tối quan trọng với những dự án như vậy.
1
VIETNAM OUTSOURCING PRESENTS:

VIETNAM - THE SECOND WORKSHOP OF THE WORLD?

BY DANIEL PHAM - VNO DIRECTOR

I. TIỀM NĂNG
 

Trong nhiều năm gần đây Việt Nam được coi như một điểm đến tiềm năng cho các công ty có nhu cầu chuyển dịch hoặc outsource sản xuất, và trở thành công xưởng thứ 2 của thế giới sau Trung Quốc. Việc này không phải không có cơ sở.

 

Mức lương cơ bản ở Việt Nam vẫn rất hấp dẫn, cơ cấu dân số với tỷ lệ vàng, phù hợp với việc phát triển các ngành công nghiệp sản xuất (info). Bên cạnh đó với sự xuất hiện của nhiều tập đoàn, công ty sản xuất lớn từ những năm 1990s cũng như sự quan tâm đầu tư được dành cho các cơ sở dạy nghề khiến Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có nguồn lao động sản xuất (kỹ sư, công nhân) tốt nhất trong khối các nước đang phát triển dưới con mắt của nhiều chuyên gia.

 

Chính phủ Việt Nam cũng làm rất tốt trong việc tích cực tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA). Hiện nay Việt Nam đã tham gia 16 hiệp định thương mại song phương và đa phương với các lộ trình giảm thuế quan được áp dụng với các mốc thời gian khác nhau. Ngoài ra, rất nhiều nỗ lực đã được bỏ ra trong công tác thu hút đầu tư nước ngoài (FDI). Các khu công nghiệp mới mọc lên ngày càng nhiều, hạ tầng logistic được nâng cấp, ưu đãi thuế, đơn giản hóa thủ tục hành chính

 

Đặc biệt căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đã như một chất xúc tác khiến làn sóng chuyển dịch của chuỗi cung ứng thế giới được đẩy lên cao trào. Việt Nam đương nhiên được coi là một trong những điểm đến. Đúng ra đây chính là thời điểm các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam tỏa sáng và phát triển bùng nổ. Tuy nhiên thực tế có đúng như vậy?
 

Trên thực tế các ngành sản xuất tăng trưởng tốt nhất tại Việt Nam bao gồm: May mặc, giầy dép, gỗ và các sản phẩm từ gỗ  - đều là những ngành công nghiệp cũ, hàm lượng chi phí nguyên vật liệu và nhân công cao, đã phát triển ở Việt Nam từ những năm 1990s. Các ngành này chủ yếu tạo ra sản phẩm tiêu dùng, gia dụng, ít hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng không cao.

Ngoài ra, ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính cũng có mức tăng trưởng nhanh. Tuy nhiên, các mặt hàng này đều do các công ty đa quốc gia (MNC) làm chủ chuỗi, giá trị gia tăng của các công đoạn sản xuất trong nước không nhiều, tỷ lệ nội địa hóa thấp. Ví dụ như, công ty Canon, đã có mặt ở Việt Nam từ năm 2012, đến nay vẫn chỉ có 20 trên 175 nhà cung cấp là công ty nội địa - chủ yếu làm các chi tiết nhựa và đóng gói bảo quản. Phần lớn các chi tiết, linh kiện quan trọng phải nhập khẩu hoặc mua từ công ty vệ tinh khác - bao gồm cả các FDI Nhật, Trung Quốc, Đài Loan đặt tại Việt Nam. Việc này cũng lập lại ở phần lớn các công ty sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính khác. Tại sao lại như vậy?

Thật ra, vấn đề nhức nhối trong việc phát triển các nhà sản xuất nội địa trong ngành công nghiệp sản xuất, công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam đã tồn tại từ lâu. Đây là những ngành có chuỗi cung ứng rất rộng, phức tạp và thường liên quan chặt chẽ đến nhau. Các rào cản kỹ thuật cao, không thể đi tắt đón đầu. Nguyên vật liệu và các chuyên gia trong nước không có sẵn...

 Đặc biệt là quy trình bán hàng và phê duyệt nhà cung cấp mới thường rất lâu và phức tạp, các quy định về quản lý chất lượng rất khắt khe. Trung binh mất 6-9 tháng từ báo giá, chế tạo mẫu đến sản xuất hàng loạt, có thể lên đến 2-3 năm đối với ngành ô tô  Vì vậy, không phải doanh nghiệp sản xuất nào ở Việt Nam cũng sẵn sàng để đón nhận các cơ hội được mang đến từ làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng này.


II. KHÓ KHĂN

Sẽ là không thực tế nếu như nghĩ rằng, chỉ cần bay qua Việt Nam, gặp một vài xưởng sản xuất là có thể đặt hàng được ngay. Như đã nói ở trên, đúng ra làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng hiện nay phải là cơ hội để các doanh nghiệp sản xuất trong nước tỏa sáng. Nhưng trên thực tế việc này lại làm lộ ra, rõ ràng hơn bao giờ hết thực tế rằng Việt Nam (và có thể cả các nước đang phát triển khác trong khu vực) chưa sẵn sàng để nắm bắt cơ hội và trở thành phân xưởng sản xuất thứ 2 của thế giới.  

Ông Chris Mooney, giám đốc của công ty Chinaoutsourcing.com - doanh nghiệp Anh Quốc (UK) chuyên gia công sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng cơ khí tại Trung Quốc từ năm 2002 phát biểu: Trung Quốc có quy mô dân số gấp hơn 10 lần Việt Nam, họ đi trước Việt Nam ít nhất 15 đến 20 năm. Hầu như bất cứ cái gì bạn cần để sản xuất ra sản phẩm của mình đều có sẵn. Hơn nữa các lợi thế lớn nhất của Việt Nam đều không phải lợi thế tuyệt đối. Làn sóng chuyển dịch, và sự mọc lên như nấm của các công ty FDI vô tình khiến nhu cầu lao động kỹ thuật tăng đột biến, mức lương thực tế (không phải mức lương tối thiểu) tăng nhanh. Các hiệp định FTA có tác dụng 2 chiều, bên cạnh thuận lợi cũng là thách thức rất lớn đối với doanh nghiệp trong nước do giá linh kiện nhập khẩu ngày càng rẻ theo lộ trình giảm thuế.

Sẽ không có giải pháp tức thời để chuyển dịch toàn bộ chuỗi cung ứng sang Việt Nam. Nhà xưởng sản xuất thứ 2 của thế giới không thể hình thành chỉ sau 1 đêm.

III. CÁC GIẢ ĐỊNH KHÔNG ĐÚNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM

 

Bên cạnh những lý do vỹ mô dễ nhìn thấy và phân tích, còn nhiều lý do khác khiến chi phí sản xuất tại Việt Nam không phải bao giờ cũng rẻ hơn Trung Quốc. Phần nhiều các công ty Mỹ và Châu Âu khi mới đến Việt Nam sẽ khó có thể hiểu được. Chi phí nhân công tại Việt Nam chỉ bằng 1 nửa tại Trung Quốc. Thế nhưng khi nhận được báo giá tại Việt Nam gấp 1.5 lần, 2 lần hoặc thậm chí nhiều hơn giá sản xuất tại Trung Quốc họ hoàn toàn bị bất ngờ.

Gần đây nhất, một công ty Mỹ sản xuất kích xoay thủy lực (Hydraulic Torque Wrench) đề nghị chúng tôi báo giá - Ông Daniel Pham, giám đốc công ty VNoutsourcing.com (VNO), chi nhánh trong nước của Chinaoutsourcing.com, cho biết. Trong nước hiện không có doanh nghiệp nào chuyên sản xuất sản phẩm này. Chúng tôi phải tìm một số nhà máy có máy móc, con người phù hợp. Tuy nhiên báo giá tổng hợp tại Việt Nam cao gấp 2 lần giá mong đợi. Sẽ mất nhiều thời gian và công sức để VNO có thể tổ chức và tối ưu quy trình sản xuất để có thể đáp ứng được yêu cầu của những khách hàng mới thế này.

Cũng chính làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng được thúc đẩy bởi cuộc chiến thương mại khiến cán cân cung - cầu tại Việt Nam bị mất cân đối quá nhanh. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam lầm tưởng cơ hội này sẽ kéo dài mãi và không cảm thấy mặn mà với việc cung cấp hàng chất lượng tốt với chi phí thấp hơn những gì họ vẫn làm. Họ không nghĩ rằng đối với các ngành sản xuất có rào cản kỹ thuật cao và quy trình quản lý phức tạp, việc tham gia được vào chuỗi cung ứng mới của khách hàng quan trọng và về lâu về dài sẽ mang lại lợi ích lớn hơn nhiều so với 1 - 2 đơn hàng giá cao.

Một nguyên nhân chủ quan nữa khiến giá báo của các nhà máy sản xuất cơ khí, công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam thường có giá cao “bất ngờ” là tư duy bán hàng theo kiểu “quan hệ”. Việc này rất khó để có được những thống kê khoa học chính xác mà chủ yếu dựa vào cảm nhận cá nhân qua các buổi tiếp xúc trực tiếp - Ông Daniel Pham, giám đốc VNoutsourcing.com cho biết, “trong database của tôi có khoảng 2000 công ty sản xuất có trụ sở tại Việt Nam, và cá nhân tôi có điều kiện gặp gỡ trực tiếp khoảng gần 300 nhà máy”. Các công ty có nguồn gốc từ doanh nghiệp nhà nước (DNNN), thường có những mặt hàng truyền thống điều này khiến cho các đơn hàng thương mại không có ý nghĩa sống còn. Họ không có áp lực phải cung cấp sản phẩm với chất lượng tốt nhất và chi phí tối ưu nhất. Việc nghiên cứu bản vẽ, báo giá (rất nhiều báo giá) và chế tạo mẫu không nhận được sự quan tâm và tập trung cần thiết.

III. CÁC GIẢ ĐỊNH KHÔNG ĐÚNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM

Nghe có vẻ khó tin, nhưng kiểu tư duy như vậy cũng rất phổ biến ở nhiều doanh nghiệp tư nhân có đơn hàng truyền thống với những FDI lớn. Những doanh nghiệp như vậy thường có kết quả kinh doanh tốt, năng lực sản xuất mạnh. Trải qua nhiều năm tối ưu quy trình sản xuất cho các mặt hàng truyền thống cùng thông tin kịp thời từ lợi thế quan hệ tốt, lợi nhuận trên từng đơn hàng của họ hấp dẫn hơn nhiều so với những sản phẩm mới, phải cạnh tranh giá với Trung Quốc. Họ không mặn mà lắm với các cơ hội từ làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng hiện

nay. Trên quan điểm kinh doanh mà nói, với những doanh nghiệp đã phát triển mạnh và có nguồn hàng ổn định, làm như vậy cũng không hẳn là sai. Họ hoàn toàn có quyền quyết định mình sẽ phân bổ nguồn lực và thời gian của mình vào đâu. Tuy nhiên, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân nhỏ hơn, khi phát triển thị trường thường cố gắng dập khuôn doanh nghiệp lớn hơn hoặc đi trước. Mặc dù thị trường cung cấp cho các FDI trong nước rất lớn và là sân chơi tuyệt vời cho các công ty trong nước phát triển. Nhưng nếu nghĩ rằng đó là sân chơi duy nhất, những doanh nghiệp như vậy sẽ không sẵn sàng để đón nhận các cơ hội được đưa đến từ làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng lần này.

Nói như vậy không có nghĩa rằng chỉ cần thay đổi tư duy bán hàng là giá thành sản xuất tại Việt Nam có thể cạnh tranh hơn được so với Trung Quốc. Các doanh nghiệp Trung Quốc có kinh nghiệm tính giá chính xác hơn rất nhiều so với phần lớn doanh nghiệp sản xuất Việt Nam. Công thức tính giá chủ yếu ở Việt Nam bao gồm: (chi phí trực tiếp) + (chi phí gián tiếp) + (lợi nhuận mong muốn) = giá thành.

Trong khi các biến phí trực tiếp trên thành phẩm như: nguyên vật liệu, nhân công, giờ máy… có thể được ước tính khá chính xác và dễ dàng (mặc dù có thể tối ưu hơn được). Thì việc bóc tách chi phí gián tiếp (nhà xưởng, năng lượng, nhân công gián tiếp, chi phí bán hàng, chăm sóc khách hàng, tỷ lệ hàng lỗi, vận chuyển…) khó có thể được bóc ra một cách chính xác trên đầu sản phẩm. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam xác định việc tính giá của mình có chuẩn hay không dựa vào bảng cân đối kế toán lãi lỗ (P&L). Và để cho chắc ăn họ tính toán với một khoảng an toàn rộng. Phương án tính giá thị trường - dựa trên giá của đối thủ cạnh tranh, và giá mà khách hàng sẵn sàng chi trả ít được áp dụng. Chính vì vậy doanh nghiệp không có khả năng tự đánh giá năng lực cạnh tranh của mình trong chuỗi cung ứng thế giới.


IV. VƯỢT QUA SỰ KHÁC BIỆT

Vậy làm thế nào để có thể vượt qua những khó khăn này và trở nên sẵn sàng hơn để đón nhận những cơ hội mới. Theo chúng tôi cách nhanh nhất để các nhà sản xuất Việt Nam trở nên sẵn sàng hơn là học hỏi ngay từ khách hàng Châu Âu, Mỹ của mình. Những yêu cầu khắt khe về mặt kỹ thuật và hồ sơ chất lượng của khách hàng, chính là những bài toán, mà nếu giải được sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh của các nhà máy trong nước rất nhiều- Ông Chris Mooney cho biết. Bên cạnh đó như đã nói, có rất nhiều điểm tương đồng giữa Việt Nam và Trung Quốc. Các nhà máy Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi người láng giềng của mình về cách tổ chức sản xuất, dần áp dụng tự động hóa và các quy trình quản lý tiên tiến để tối ưu quy trình. Đặc biệt là học hỏi về tính cạnh tranh trong việc báo giá để có thể chen chân vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thực tế triển khai đưa hàng về Việt Nam sản xuất phức tạp và mất thời gian hơn như vậy một chút. Ông Daniel Phạm cho biết. VNO chúng tôi may mắn cộng tác với những chủ doanh nghiệp có ý thức rất rõ ràng, và tinh thần cầu thị để đón nhận những cơ hội từ làn sóng chuyển dịch lần này. Ví dụ như, chúng tôi đang tiến hành sản xuất mẫu một số sản phẩm gia công chính xác làm từ đồng với một nhà máy tại Đông Anh. Ngay từ những ngày triển khai đầu tiên, giám đốc công nhà máy đã cho mua toàn bộ vật tư đồng và dưỡng kiểm tra theo yêu cầu của khách hàng. Tuy nhiên có một số mác vật tư và dụng cụ đo lường không có sẵn ở Việt Nam. Sau một thời gian tìm kiếm trong nước không có, VNO đã chuyển từ nước ngoài về cho nhà máy nhằm đẩy nhanh thời gian chế tạo mẫu.

Kỹ sư trưởng của chúng tôi và chuyên gia từ Trung Quốc cũng sang tận nơi, cùng làm việc với nhà máy để phát triển sản phẩm. Dẫu vậy, cũng đã mất 5 tháng phát triển và trải qua 2 lần nộp mẫu, sản phẩm vẫn chưa được duyệt. Nhưng những bước tiến về mặt chất lượng và quy trình làm việc của kỹ thuật nhà máy là rất rõ ràng. VNO hy vọng lần nộp mẫu thứ 3, sản phẩm sẽ được phê duyệt. Riêng đối với mặt hàng này, hàng năm chúng tôi đặt khoảng 3 triệu USD tại Trung Quốc. Tuy nhiên mục tiêu đưa về Việt Nam sản xuất trong năm đầu tiên của chúng tôi chỉ vào khoảng 200-500k USD. Ưu tiên số 1 của chúng tôi vẫn là phải đảm bảo chất lượng và các tiêu chuẩn được yêu cầu bởi khách hàng.

Câu chuyện con gà quả trứng bao giờ cũng nan giải: Năng lực tốt (Giá thành tốt, Chất lượng tốt, Giao hàng đúng) ⇒ Nhiều đơn hàng (thị trường lớn hơn) ⇒ Cơ hội để, học hỏi tối ưu sản xuất, thị trường sẵn có hơn, nhân sự tốt hơn…. ⇒ Năng lực tốt hơn ⇒ Nhiều đơn hàng hơn nữa… (và lập lại)

Blue and Mint Green Cycle Diagram
Vậy năng lực cần tốt trước hay thị trường cần lớn trước? Trong trường hợp của ngành công nghiệp sản xuất hiện nay rất may mắn cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước. Mối quan tâm của các khách hàng thế giới đối với Việt Nam là thực tế và rất lớn. Tôi nghĩ rằng, các công ty sản xuất Việt Nam cần giành phần chủ động về mình, đảm bảo năng lực để tham gia được vào chuỗi cung ứng thế giới, và không ngừng cải tiến. Qua đó dần nâng cao mặt bằng kỹ thuật và năng lực sản xuất tại Việt Nam. VNoutsourcing.com chúng tôi sẵn sàng đồng hành, cùng phát triển với những nhà máy như vậy khi có cơ hôi. Đây là một phần sứ mệnh của VNO. Ông Daniel Pham cho biết.
1111
Đối với các khách hàng châu Âu, Mỹ quan tâm đến việc sản xuất tại Việt Nam. Hiện nay, họ dễ dàng nhận thấy các nhà máy và công ty thương mại ở Việt Nam mọc lên như nấm. Tuy nhiên không phải đơn vị nào cũng có kinh nghiệm, kiến thức và nhân sự triển khai tổ chức sản xuất bài bản để có thể đi đến thành công, đảm bảo chất lượng, giao hàng và giá thành phù hợp. Việc lựa chọn được đối tác phù hợp là tối quan trọng với những dự án như vậy.

Older articles

Sign up to download the profile

Complete your information in the form below

You did not use the site, Click here to remain logged. Timeout: 60 second